Bạn đang ở:

Đo đạc - bản đồ -- Quản lý đất đai

Việc thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường - kỳ vọng và thách thức

Email In PDF.

lvb

1. Thực trạng về Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng (VPĐKQSD) đất hiện nay
Như chúng ta đã biết, hệ thống VPĐKQSD đất các cấp trên địa bàn tỉnh được thành lập từ năm 2005 theo Luật Đất đai năm 2003, bao gồm VPĐKQSD đất cấp tỉnh trực thuộc Sở TN&MT và VPĐKQSD đất cấp huyện trực thuộc các Phòng TN&MT. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức biên chế và cơ chế tài chính của VPĐKQSD đất thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 15/03/2010 của liên Bộ TN&MT, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính;
Hệ thống VPĐKQSD đất cấp tỉnh và VPĐKQSD đất của 18 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được thành lập đã khắc phục nhiều khó khăn về nhân lực, chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ về đăng ký đất đai, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận (GCN), góp phần cải cách thủ tục hành chính (TTHC) trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, mô hình VPĐKQSD đất ở hai cấp đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong quản lý vận hành, đó là:
- Hoạt động của VPĐK các cấp chưa có sự quản lý điều hành tập trung, chưa đảm bảo việc thực hiện TTHC theo một quy trình thống nhất, chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp trong tổ chức thực hiện, trong thủ tục đăng ký cấp GCN nhiều địa phương còn tùy tiện yêu cầu thêm những loại giấy tờ ngoài những quy định của pháp luật; nhiều thủ tục thực hiện còn vượt yêu cần so với quy định nhưng không được chấn chỉnh kịp thời, dẫn đến tình trạng cùng một nội dung công việc nhưng kết quả giải quyết ở các địa phương có khác nhau;
- Việc tồn tại hệ thống VPĐKQSD đất hai cấp như hiện nay bắt buộc hồ sơ địa chính (trên giấy) phải được lập đủ ba bộ và lưu giữ ở ba cấp, đòi hỏi chi phí đầu tư lớn cho việc thiết lập quản lý và chỉnh lý thường xuyên. Hồ sơ được lưu giữ ở nhiều cấp nên việc quản lý hồ sơ phân tán, gây khó khăn cho việc cập nhật, chỉnh lý đồng bộ và cung cấp thông tin đất đai thống nhất theo yêu cầu quản lý và nhu cầu của người sử dụng đất;
- Việc theo dõi, kiểm tra đôn đốc cũng như hướng dẫn chuyên môn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đăng ký, cấp GCN, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính giữa VPĐK đất cấp tỉnh đối với VPĐK cấp huyện thường kém hiệu lực, vì VPĐK cấp huyện không thuộc quyền quản lý của VPĐK cấp tỉnh;
- Đội ngũ cán bộ trong hệ thống VPĐK hai cấp như hiện nay không thể điều động, và sử dụng linh hoạt giữa các địa bàn các huyện để hỗ trợ cho nhau hoàn thành nhiệm vụ, nên lực lượng chuyên môn có chỗ thừa, chỗ thiếu rất lãng phí nguồn nhân lực.
- Công tác đầu tư kinh phí, nhân lực cho việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính, xây dựng vận hành cơ sở dữ liệu phần lớn chưa được các cấp thực sự quan tâm, nên tình trạng số liệu thông tin trong hệ thống hồ sơ địa chính không được cập nhật, chỉnh lý biến động thường xuyên, nên thông tin trong hồ sơ không sát với thực tế, và không thống nhất giữa các tài liệu ở cấp như hiện nay. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hồ hơ địa chính thiếu độ tin cậy, nhiều nơi chỉ còn là giá trị tham khảo.
2. Ý nghĩa, kỳ vọng của việc thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ)
Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 27/8/2014 của Văn phòng Chính phủ Kết luận của thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh cải cách TTHC trong lĩnh vực quản lý đất đai; Việc thành lập VPĐKĐĐ trực thuộc Sở TN&MT dựa trên cơ sở tổ chức lại VPĐKQSD đất Quảng Nam và các VPĐKQSD đất thuộc Phòng TN&MT các huyện, thị xã, thành phố với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động theo Thông tư liên tịch 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015 của liên Bộ TN&MT, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính.
Việc thành lập VPĐKĐĐ với kỳ vọng sẽ khắc phục được những bất cập, hạn chế của mô hình cũ, đồng thời với mô hình mới sẽ thuận tiện trong chỉ đạo, kiểm tra, quản lý, điều hành tập trung, đảm bảo thực hiện TTHC theo chức năng, nhiệm vụ với quy trình thống nhất, đồng bộ thể hiện được tính chuyên nghiệp trong hệ thống đăng ký; lực lượng chuyên môn trong hệ thống VPĐKĐĐ có thể điều động, và sử dụng linh hoạt giữa các địa bàn các huyện để hỗ trợ cho nhau hoàn thành nhiệm vụ. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, tài sản trang thiết bị, và phương tiện làm việc khác tránh (chỗ thừa, chỗ thiếu) lãng phí.
3. Những khó khăn, thách thức cần được các cấp quan tâm, chia sẻ
- Khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới GCN và việc cấp đổi, cấp lại GCN theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, thì việc ký GCN thuộc thẩm quyền Sở TN&MT, trong khi đó trên địa bàn tỉnh Quảng Nam rộng lớn, điều kiện đi lại còn khó khăn, việc vận chuyển hồ sơ cấp Giấy thường xuyên từ Chi nhánh ở các huyện, thị xã, thành phố về trụ sở chính của VPĐKĐĐ để kiểm tra, trình ký theo thời gian quy định là không hề đơn giản, cần phải có những giải pháp cụ thể về tổ chức thực hiện với việc áp dụng công nghệ phù hợp, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân thực hiện để rút ngắn thời gian mới mong TTHC về đăng ký cấp GCN được vận hành thông suốt, đảm bảo thời gian quy định.
- Việc kiện toàn VPĐKĐĐ một cấp tại các địa phương là một công việc khó khăn, phức tạp, có nhiều thách thức, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo tập trung, cương quyết của UBND tỉnh, sự tham gia phối hợp, hỗ trợ tích cực thường xuyên của các ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố, thì tổ chức mới được thành lập, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đúng pháp luật, góp phần cải cách TTHC trong lĩnh vực đất đai, và đáp ứng sự mong đợi của người sử dụng đất và cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, mà trước mắt, để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VPĐKĐĐ (và các Chi nhánh) theo quy định tại Thông tư liên tịch 15/2015/TT-LT-BTNMT-BNV-BTC, cần phải có những lời giải cho những thách thức của các cấp, ngành quan tâm chia sẻ, đó là:
- Trước hết, VPĐKĐĐ sau khi được thành lập phải được cân đối từ ngân sách Nhà nước trên cơ sở cân đối nguồn thu. Nguồn ngân sách Nhà nước cấp phải được đảm bảo các khoản: Kinh phí chi thường xuyên, kinh phí đặt hàng, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư trang thiết bị, sửa chữa tài sản cố định,... trong đó kinh phí chi thường xuyên theo biên chế sự nghiệp được xác định cho số lượng lao động đối với các công việc không có nguồn thu như: Quản lý hành chính, quản lý hồ sơ địa chính; thực hiện các thủ tục về đăng ký và cung cấp thông tin đất đai cho các đối tượng miễn thu phí lệ phí theo quy định, chỉnh lý biến động, cập nhật, vận hành cơ sở dữ liệu theo tinh thần pháp luật đất đai mới. Đây là thách thức đầu tiên cần có lời giải để VPĐKĐĐ, một đơn vị sự nghiệp có thu đủ điều kiện hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao;
- Thứ hai, hiện nay biên chế sự nghiệp theo hiện trạng dự kiến bàn giao để thành lập Chi nhánh của VPĐKĐĐ tại các địa phương không thống nhất, một số huyện miền núi chỉ 1 đến 2 người, thậm chí có nơi không bàn giao nhân lực và chỉ tiêu biên chế (như Tây Giang, Nam Trà My) để hình thành cơ cấu và tổ chức hoạt động của Chi nhánh (bố trí lãnh đạo và kế toán Chi nhánh). Đây cũng là bài toán khó, trước mắt cần có giải pháp tháo gỡ kịp thời của cơ quan chức năng để mọi hoạt động của các Chi nhánh Văn phòng ở những nơi này được diễn ra bình thường;
- Thứ ba, nhu cầu nhà làm việc, trang thiết bị, tài sản cố định là nhu cầu thiết yếu cho hoạt động của đơn vị sự nghiệp thực hiện TTHC về đất đai, đặc biệt là những trang bị thiết yếu không thể thiếu trong điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ, như: máy quét, máy đo đạc cho hoạt động kiểm tra đo vẽ lập hồ sơ đăng ký, cấp GCN, quét (scan) dữ liệu hồ sơ gốc vào máy tính và trả lại bản chính giấy tờ cho người làm thủ tục khi trao GCN (Cơ quan nhận hồ sơ không giữ HS gốc mà đóng dấu dấu đã cấp GCN và trả lại cho dân) theo hướng dẫn của Bộ TN&MT kể từ ngày 01/01/2015;
- Thứ tư, vấn đề trụ sở làm việc của Văn phòng và các Chi nhánh, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch 15/2015/TT-LT-BTNMT-BNV-BTC có nêu: "VPĐKĐĐ...được Nhà nước bố trí Văn phòng, trang thiết bị làm việc'', tuy nhiên phần lớn các VPĐKQSD đất hiện nay không có trụ Sở riêng mà được UBND cấp huyện bố trí sử dụng chung trong khối nhà làm việc UBND cấp huyện hoặc khu làm việc của phòng TN&MT và cũng chỉ là tạm thời, do đó về lâu dài, việc xây dựng trụ sở cho các Chi nhánh để có nơi làm việc ổn định là nỗi lo của người trong cuộc;
- Thứ năm, là sự phối hợp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VPĐKĐĐ và các Chi nhánh với các cơ quan hữu quan có thẩm quyền ở địa phương và Sở TN&MT cũng như các ngành có liên quan phải được thực hiện nghiêm túc theo một Quy chế phối hợp thống nhất, chặt chẽ cũng là một trong những nội dung quan trọng trong cơ chế vận hành của công cuộc cải cách TTHC trên địa bàn tỉnh hiện nay.
* Là người trong cuộc, chúng tôi nhận thấy rằng, trong quá trình thành lập VPĐKĐĐ, rất cần có sự quan tâm, chia sẻ, hỗ trợ tích cực của các ngành liên quan cùng với sự phối hợp của UBND các huyện, thị xã, thành phố xem xét tham mưu cho UBND tỉnh kịp thời giải quyết những khó khăn đã được trình bày để VPĐKĐĐ sau khi được thành lập có đủ nguồn lực để hoạt động, đảm bảo TTHC về đăng ký cấp GCN, lập quản lý, cập nhật, vận hành cơ sở dữ liệu đất đai theo chức năng, nhiệm vụ được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Luật Đất đai 2013./.

Lưu Văn Ba

Huyện Thăng Bình: Thông qua Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2020 và lập KHSD đất năm 2016

Email In PDF.

Chiều ngày 01/10/2015, UBND huyện Thăng Bình tổ chức cuộc họp Thông qua Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2020 và lập KHSD đất năm 2016 của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tham dự cuộc họp, về phía tỉnh có đại diện Lãnh đạo Chi cục Quản lý Đất đai - Sở TN&MT, Ban Quản lý Khu KTM Chu Lai; về phía huyện có ông Phan Công Vỹ - Bí thư huyện ủy; ông Hồng Quốc Cường – Chủ tịch UBND huyện chủ trì, cùng các PCT UBND huyện, Lãnh đạo các phòng, ban của huyện; Lãnh đạo UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Thăng Bình, đại điện các đơn vị tư vấn (Trung tâm Kỹ thuật TN&MT Quảng Nam).

Copy of WP 20151001 002Tại cuộc họp đã nghe đại diện Trung tâm Kỹ thuật TN&MT Quảng Nam báo cáo tóm tắt nội dung Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2020 và lập KHSD đất năm 2016 của huyện Thăng Bình; Các ý kiến đóng góp của Lãnh đạo các đại biểu tham dự, ý kiến giải trình của Phòng TN&MT huyện và đơn vị tư vấn. Ông Hồng Quốc Cường – Chủ tịch UBND huyện kết luận một số nội dung chính:
- Về căn cứ pháp lý để thực hiện Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2020 và KHSD đất năm 2016 cần bám sát vào chỉ tiêu phân bổ QHSD đất cho huyện Thăng Bình theo Quyết định số 1963/QĐ-UBND ngày 25/6/2013, Quyết định số 2020/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh về phê duyệt QHSD đất đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ của huyện lần thứ XX, có quy hoạch vùng đông, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch nông thôn mới để tránh chồng chéo mâu thuẫn;
- Đề nghị xem lại số liệu biến động tăng về diện tích tự nhiên của huyện Thăng Bình, trong thuyết minh cần làm rõ nội dung này, xem lại diện tích biến động về đất lúa, đất trồng cây lâu năm.
- Bổ sung các dự án đã có chủ trương của tỉnh, của Bộ, các dự án trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, kết cấu hạ tầng, quy hoạch nông thôn mới, dự án kinh tế của địa phương, một số dự án phát triển du lịch, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, các dự án an ninh, quốc phòng...
- Đề nghị Phòng TN&MT huyện phối hợp với đơn vị tư vấn, Ban quản lý Khu KTM Chu Lai và Chi cục Lâm nghiệp kiểm tra rà soát lại quy hoạch 03 loại rừng, các dự án do Ban KTM Chu Lai làm chủ đầu tư để khớp nối cho phù hợp, nhất là các dự án đầu tư trung hạn.
- UBND các xã, thị trấn tham gia kỹ báo cáo điều chỉnh QHSD đất đến năm 2020 và KHSD đất năm 2016 và gửi ý kiến bằng văn bản về Phòng TN&MT huyện trước ngày 8/10/2015.
- Đề nghị Phòng TN&MT phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn chỉnh lại báo cáo điều chỉnh QHSD đất đến năm 2020 và KHSD đất năm 2016 của huyện Thăng Bình để thông qua thường trực HĐND huyện trước khi gửi cho Hội đồng Thẩm định QH, KHSD đất tỉnh trước ngày 15/10/2015./.

Nguyễn Ngọc Hiếu

Nam Trà My: Khai Giảng lớp Tập huấn công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Email In PDF.

Ngày 15/9/2015, Phòng TN&MT huyện Nam Trà My phối hợp trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam tổ chức khai giảng lớp Tập huấn công tác QLNN về đất đai cho cán bộ Địa chính - Xây dựng 10 xã trên địa bàn huyện.Tham dự buổi khai giảng có : Đ/c Trần Văn Mẫn - Phó chủ tịch UBND huyện; Thầy Hoàng Thiện Tú - Trưởng khoa Nông nghiệp và các giảng viên chuyên môn trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam; Lãnh đạo các phòng: TN&MT, Nội vụ, KT-HT, Nông nghiệp và PTNT; Chủ tịch UBND các xã và 20 học viên là cán bộ Địa chính - Xây dựng 10 xã có mặt đông đủ.

Copy of TAP HUAN DCt ddPhát biểu tại buổi khai giảng, đ/c Trần Văn Mẫn – Phó Chủ tịch UBND huyện nêu rõ mục đích, ý nghĩa của lớp tập huấn lần này nhằm trang bị kiến thức và nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ địa chính cấp xã với những nội dung trọng tâm, cơ bản theo đúng quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đáp ứng yêu cầu QLNN về đất đai tại địa phương. Đồng thời yêu cầu cán bộ địa chính cấp xã sau khi được tập huấn cần làm tốt hơn công tác tham mưu, phối hợp với các cơ quan liên quan trong công tác QLNN về đất đai ở cấp xã, áp dụng kiến thức đã được tập huấn vào nhiệm vụ thực tiễn và tổ chức thực hiện có hiệu quả trong công tác QLNN về lĩnh vực đất đai tại địa phương mình.
Lớp Tập huấn khai giảng vào ngày 15/9/2015 và dự kiến bế mạc vào ngày 29/9/2015.

Thu Thảo

Xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ - tạo hành lang pháp lý vững chắc trong việc thực thi pháp luật và thống nhất quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ

Email In PDF.

DSC 0685 resize

Ngày 8/9, tại Trụ sở cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc đã chủ trì cuộc họp Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập Dự án Luật Đo đạc và Bản đồ về việc thông qua kế hoạch thực hiện và khung nội dung cơ bản Dự án Luật. Tham dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo, Tư pháp, Tài chính, Thông tin và Truyền thông, Quốc phòng, Công an, Xây dựng, Nội vụ, Ngoại giao, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và một số chuyên gia, nhà khoa học về lĩnh vực đo đạc và bản đồ.
Phát biểu khai mạc cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc, Phó trưởng Ban soạn thảo cho biết: Đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản phải được đi trước một bước nhằm đảm bảo hạ tầng thông tin địa lý phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong nước, đáp ứng nhu cầu tham gia hợp tác để giải quyết các bài toán toàn cầu và khu vực về nghiên cứu khoa học trái đất, về giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời gian qua, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và ban hành Nghị định số 12/2002/NĐ-CP, Nghị định 45/2015/NĐ-CP về hoạt động đo đạc và bản đồ cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành để tạo cơ sở pháp lý thống nhất quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, các chính sách quản lý của Nghị định đã dần bộc lộ những hạn chế, bất cập, không phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực này. Vì vậy, trong thời gian tới việc xây dựng và ban hành Luật Đo đạc và Bản đồ là rất cần thiết và là yêu cầu cấp bách của thực tiễn khách quan.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc đề nghị các thành viên Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập cần tập trung góp ý xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ thống nhất và bài bản để thời gian tới Luật thực sự trở thành hành lang pháp lý hữu hiệu trong quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ.

2

Báo cáo về Dự án Luật Đo đạc và Bản đồ, ông Phan Đức Hiếu - Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, Tổ trưởng Tổ biên tập nhấn mạnh những hạn chế, bất cập trong quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ mà cả hai Nghị định 12 và Nghị định 45 chưa thực sự giải quyết được. Các văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ hiện tại chưa phải là Luật nên chưa thể giải quyết được hết khó khăn khi thực hiện. Bên cạnh đó, một số hoạt động đo đạc và bản đồ được điều chỉnh theo các quy định nằm phân tán trong các luật chuyên ngành, như Luật Đất đai, Luật xây dựng, Luật Biển, Luật Biên giới quốc gia, Luật Tổ chức chính quyền địa phương... Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong việc thực thi pháp luật và không thực hiện được thống nhất quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. "Nghị định 12 và Nghị định 45 chưa hạn chế triệt để tình trạng đo đạc chồng chéo, lãng phí; chính sách phân cấp cho địa phương trong tổ chức triển khai các nhiệm vụ đo đạc và bản đồ cơ bản chưa phù hợp, mang nặng tính bao cấp. Đồng thời, chính sách quản lý thông tin, dữ liệu sản phẩm đo đạc và bản đồ còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng chung và chia sẻ thông tin" – ông Phan Đức Hiếu chia sẻ.
Theo ông Phan Đức Hiếu, mục tiêu xây dựng Luật nhằm tạo ra bước thay đổi mang tính đột phá toàn diện cho công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ, làm cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ thúc đẩy sự phát triển ngành đo đạc và bản đồ; nhằm cung cấp kịp thời các sản phẩm, thông tin, dữ liệu đo đạc bản đồ đảm bảo chất lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao dân trí.
Mục tiêu cơ bản của việc quản lý nhà nước các hoạt động đo đạc và bản đồ là đảm bảo chất lượng, sự thống nhất và đồng bộ của các sản phẩm đo đạc bản đồ, đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu sử dụng; tránh việc đo đạc chồng chéo gây ra những tốn kém, lãng phí...
Về nội dung, Luật Đo đạc và Bản đồ thể chế hóa những khía cạnh cần thiết như: quản lý thống nhất các hoạt động đo đạc và bản đồ, trong đó nội dung "Thành lập và chỉnh lý hệ thống bản đồ địa chính" đề nghị chuyển vào nội hàm của hoạt động đo đạc bản đồ; chính sách quản lý các hoạt động đo đạc và bản đồ; chính sách quản lý thông tin, dữ liệu đo đạc và bản đồ; chính sách về xây dựng và quản lý hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia...

1

Cũng tại cuộc họp, đại diện các Bộ, Ban, ngành là thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập đã tập trung chia sẻ, thảo luận, và có những ý kiến đóng góp nhằm tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến sự cần thiết và quan điểm xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ; vấn đề về sự chồng chéo và chưa có nhiều đột phá trong cấu trúc đề cương; vấn đề liên quan đến việc triển khai thực hiện bản đồ chuyên ngành và bản đồ cơ bản...
Kết luận tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc đánh giá cao những ý kiến đóng góp thiết thực của đại diện các Bộ, Ban, ngành. Trên cơ sở những kiến nghị đó, Thứ trưởng yêu cầu các thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập cần phân tích chi tiết các vấn đề cần làm rõ, bổ sung quy định trong Dự thảo Luật, từ đó cân nhắc phạm vi điều chỉnh. Dự kiến, Ban soạn thảo và Tổ biên tập sẽ tiếp tục làm việc để xin ý kiến về Dự thảo Luật và dự thảo Nghị định của Chính phủ vào tháng 12/2015.

Nguồn: www.monre.gov.vn

Kiểm tra thực tế khu vực đề nghị bổ sung vào quy hoạch sân golf trên địa bàn tỉnh

Email In PDF.

Ngày 22/8/2015, Đoàn công tác Liên ngành do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp cùng với UBND tỉnh tổ chức kiểm tra thực tế và họp bàn về bổ sung quy hoạch sân golf Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An vào quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020. Đoàn công tác TW có Ông Bùi Tất Thắng - Viện trưởng Viện chiến lược phát triển, cùng các vụ, cục của các Bộ: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ VHTT&DL. Về phía tỉnh Quảng Nam có Ông Huỳnh Khánh Toàn - PCT UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, UBND huyện Duy Xuyên, Ban quản lý Khu KTM Chu Lai, Công ty TNHH Phát triển Nam Hội An (Đại diện nhà đầu tư) và đại diện các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, VHTT&DL.

Copy of WP 20150822 08 42 43 ProSau khi đi kiểm tra thực tế địa điểm và UBND tỉnh báo cáo tình hình triển khai thực hiện quy hoạch và đề nghị bổ sung quy hoạch các dự án sân golf trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Sau đó Đoàn công tác TW đề nghị địa phương làm rõ một số nội dung, trong đó có một số nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai cần phải kiểm tra, rà soát lại, cụ thể như sau: Chỉ tiêu sử dụng đất trong QH, KHSD đất của tỉnh, huyện; diện tích đất liên quan đến Dự án trồng rừng phòng hộ ven biển (vốn đầu tư của Chính phủ Nhật); sự phù hợp với Dự án sắp xếp dân cư ven biển; nhiệm vụ lập quy hoạch ven biển; đây là dự án sử dụng đất có yếu tố vốn nước ngoài (liên quan đến Quốc phòng, an ninh); .v.v.
Sau khi nghe ý kiến góp ý của các thành viên Đoàn công tác, Ông Bùi Tất Thắng kết luận một số nội dụng:
- Xác định lại tên gọi của Dự án sân golf, tính cấp thiết của Dự án đầu tư;
- Phải điều chỉnh, bổ sung vào QH, KHSD đất của tỉnh, huyện, đồng thời phải phù hợp với Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 26/11/2009 về việc phê duyệt quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020 và Chỉ thị 11/CT-TTg ngày 18/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sân golf theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 26/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ;
- Đánh giá tác động của Dự án đến kinh tế, xã hội và môi trường trong vùng bị ảnh hưởng của Dự án;
- Năng lực của nhà đầu tư: kinh phí, kinh nghiệm, xác định nhà đầu tư chính và các cổ đông phải có cam kết về khả năng cung cấp vốn;
- Về công tác GPMB&TĐC: Xác định cụ thể bao nhiêu hộ bị ảnh hưởng, loại đất, diện tích, phải có phương án tái định cư và di dời mồ mã;
- Khi cấp phép cho Nhà đầu tư cần lưu ý phải đảm bảo cự ly từ ranh giới Dự án đến bờ biển sao cho giữ được không gian cho bãi biển;
- Đề nghị Chủ đầu tư phối hợp với UBND tỉnh hoàn chỉnh Dự án, trình Bộ KH&ĐT lấy ý kiến của các Bộ, ngành có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt bổ sung vào quy hoạch ./.

Nguyễn Cao Sang

Họp triển khai thực hiện Dự án khu nghỉ dưỡng Nam Hội An

Email In PDF.

Ngày 18/8/2015, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức họp tổ công tác hỗ trợ triển khai thực hiện Dự án khu nghỉ dưỡng Nam Hội An. Tham gia cuộc họp có chủ tịch UBND tỉnh - Đinh Văn Thu, Chủ trì, PCT UBND tỉnh Lê Trí Thanh, Lãnh đạo các Sở, ban, ngành của tỉnh, UBND huyện Duy Xuyên và Thăng Bình, Công ty TNHH Phát triển Nam Hội An (Chủ đầu tư).

Copy of WP 20150818 001Tại cuộc họp đã nghe Lãnh đạo BQL Khu KTM Chu Lai báo cáo tóm tắt tình hình đầu tư Dự án Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An; đại diện các Sở, ban, ngành, địa phương tham gia ý kiến. Chủ tịch UBND tỉnh - Đinh Văn Thu kết luận một số nội dung cần tập trung có liên quan đến ngành tài nguyên và môi trường:
+ Đối với diện tích 985 ha Dự án Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An giao cho Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Kỳ Hà Chu Lai kiểm tra rà soát, phần diện tích đã đo đạc trước đây báo cáo Sở TN&MT chỉ đạo hướng dẫn việc chỉnh lý biến động, không tổ chức đo đạc mới.
+ Việc thu hồi đất gắn kết chuyển tiếp của các dự án trước đây, cho nên thực hiện theo Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
+ Việc xác định giá đất cụ thể, cơ chế vận hành thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC giao cho Sở TN&MT phối hợp với BQL Khu KTM Chu Lai và các Sở, ban, ngành có liên quan xây dựng cơ chế đặc thù đối với Dự án khu nghỉ dưỡng Nam Hội An.
+ Nhân lực thực hiện công tác bồi thường giao cho Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Kỳ Hà Chu Lai thực hiện. Nếu thiếu nhân lực đề nghị Sở TN&MT chỉ đạo các Trung tâm Phát triển Quỹ đất trực thuộc bố trí nhân lực thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC.
+ Về QH, KHSD đất: Nếu dự án này chưa có trong QH, KHSD đất đến năm 2020 thì đề nghị bổ sung đưa vào QHSD đất, đồng thời đưa vào KHSD đất hàng năm để có cơ sở triển khai thực hiện theo quy định./.

Ngọc Hiếu

Kiểm tra thực địa đất sản xuất trên cốt ngập tại thôn Pà rum B, xã Zuôih, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

Email In PDF.

Ngày 14/8/2015, Sở TN&MT tổ chức kiểm tra thực địa đất sản xuất trên cốt ngập tại thôn Pà rum B, xã Zuôih, huyện Nam Giang. Tham gia đoàn kiểm tra có đại diện các Sở: TN&MT, Tài chính, Công thương, Xây dựng, Nông nghiệp và PTNT, Ban QLRPH Nam Sông Bung, Ban QLDA thủy điện Sông Bung 4 (Chủ đầu tư), UBND huyện Nam Giang, các phòng, ban của huyện và UBND xã Zuôih.

Copy of WP 20150814 018

Qua kiểm tra thực địa khu vực đất sản xuất trên cốt ngập tại thôn Pà rum B, xã Zuôih, huyện Nam Giang; đại diện các ngành, địa phương tham gia ý kiến và đề xuất như sau:

Copy of WP 20150814 022+ Ban QLDA thủy điện Sông Bung 4: Đề xuất UBND tỉnh xem xét cho tiến hành đo đạc đối với các rẫy dế của nhân dân đã tham gia sản xuất ngoài quy hoạch 03 loại rừng.
+ UBND xã Zuôih: Địa phương đã tham vấn các hộ dân tại thôn Pà rum B, xã Zuôih, hầu hết nhân dân đề xuất đo đạc, lập phương án bồi thường, hỗ trợ để được hưởng quyền lợi.
+ UBND huyện Nam Giang: Hiện nay các hộ dân thôn Pà rum B, xã Zuôih đã chuyển về khu tái định cư mới, cách khu vực đất sản xuất cũ trên 10 km. UBND huyện Nam Giang đề nghị các Sở tham mưu UBND tỉnh sớm cho chủ trương đo đạc và lập phương án bồi thường hỗ trợ cho nhân dân. Nếu được thống nhất chủ trương UBND huyện sẽ sớm hoàn thành công tác đo đạc, lập phương án bồi thường hỗ trợ cho nhân dân, đồng thời đề nghị UBND xã xác định rõ nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất.
+ Sở Tài chính: Đề nghị địa phương xem lại ranh giới giữa vị trí đất đã bồi thường trước đây và khu vực đề nghị xem xét đo đạc. Thống nhất đề xuất UBND tỉnh cho chủ trương đo đạc, lập phương án bồi thường hỗ trợ.
+ Sở Công thương: Thống nhất đề xuất UBND tỉnh chủ trương cho đo đạc, sau khi thu hồi đất đề nghị địa phương giao đất cho đơn vị có chức năng, nhiệm vụ để trồng rừng.
+ Sở Xây dựng: Thống nhất theo đề xuất của UBND huyện Nam Giang, đề xuất UBND tỉnh cho đo đạc, lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân đối với diện tích sản xuất trên cốt ngập.
+ Sở Nông nghiệp và PTNT: Thống nhất đề xuất UBND tỉnh chủ trương cho đo đạc, lập phương án bồi thường, hỗ trợ  nhân dân, sau khi thu hồi đất đề nghị nên giao đất cho đơn vị có thẩm quyền để tiến hành trồng rừng. Khi đo đạc cần xác định rõ mục đích sử dụng của từng loại đất để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ.
+ Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung: Xác định loại rừng là đất phục hồi sau nương rẫy, hiện trạng là chuối rừng, lau lách và cây bạc lá. Khi tiến hành đo đạc đề nghị loại bỏ không đo các loại đất có cây rừng. Đề nghị UBND xã xác định rõ nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của nhân dân.
Qua đề xuất của các ngành, địa phương, chủ đầu tư. Sở TN&MT sẽ tổng hợp báo cáo đề xuất UBND tỉnh thống nhất cho phép chủ trương tiến hành đo đạc, lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân trên cốt ngập tại thôn Pà rum B, xã Zuôih, huyện Nam Giang./.

Ngọc Hiếu

Các tổ chức, doanh nghiệp bị ảnh hưởng đường cao tốc ĐN-QN tiếp tục bàn giao mặt bằng

Email In PDF.

Ngày 07/8/2015 Trung tâm Phát triển Quỹ đất Quảng Nam chủ trì phối hợp với BQL đường cao tốc ĐN-QN, UBND xã Tam Nghĩa, đơn vị thi công Tổng Công ty Hoàng An và đại diện chủ sở hữu các tổ chức, doanh nghiệp bị thu hồi đất do ảnh hưởng đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi tại xã Tam Nghĩa đã tổ chức bàn giao mặt bằng cho BQL dự án.

va image001Sau khi kiểm tra vị trí mốc giải phóng mặt bằng trên thực địa tại các tổ chức, doanh nghiệp: Sư đoàn Bộ binh 315 (Khu vực Trường bắn)- diện tích thu hồi: 8.314,7m2, Công ty CP Xây dựng Giao thông 502 – diện tích thu hồi: 4.248,3m2, Công ty CP Xây dựng Giao thông Quảng Nam- diện tích thu hồi: 1.801,4 m2, Công ty Quốc tế đá Thái Bình và Công ty CP Vinaconex 25 đã bàn giao một phần diện tích đã BTHT với diện tích: khoản 7.000m2/diện tích thu hồi: 24.593m2, đại diện các chủ sở hữu đã cùng Lãnh đạo Trung tâm Phát triển quỹ đất Quảng Nam, UBND xã Tam Nghĩa, các bên liên quan ký Biên bản bàn giao mặt bằng cho Ban Quản lý dự án đường cao tốc ĐN-QN và Nhà thầu Công ty Hoàng An.
Nhằm khẩn trương đi vào thi công tránh chậm bàn giao mặt bằng sau khi đã cam kết, Trung tâm Phát triển quỹ đất Quảng Nam, BQL dự án đường cao tốc ĐN-QN, UBND xã Tam Nghĩa đã thống nhất cho Nhà thầu Hoàng An đưa phương tiện thi công áp sát hiện trường để tiến hành bóc tách lớp đất mặt, đồng thời giải quyết rốt ráo những vướng mắc phát sinh (nếu có) từ các hộ dân trồng xen cây cối trong phạm vi đất của doanh nghiệp quản lý.
Trung tâm Phát triển Quỹ đất Quảng Nam tiếp tục phối hợp với UBND xã Tam Nghĩa, BQL dự án đường cao tốc ĐN-QN và các bên liên quan đôn đốc, giải quyết nếu các tổ chức, doanh nghiệp chậm trễ việc bàn giao đất cho đơn vị thi công theo cam kết, tránh tình trạng như Công ty TNHH MTV Xây dựng-Vận tải Hùng Vương đã bàn giao: 16.472,9 m2, nhưng vẫn chưa di chuyển dứt điểm tài sản trên đất, trong đó có kho vật liệu nổ, mặc dù Trung tâm đã làm việc 2 lần tại hiện trường sau khi đã cam kết bàn giao, Công ty vẫn tiếp tục hứa hẹn và tìm đủ lý do để trì hoãn.
Vấn đề này, Trung tâm Phát triển Quỹ đất Quảng Nam đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh và Sở Tài nguyên Môi trường ./.

Văn Anh

Nghiệm thu đề tài giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai

Email In PDF.

Ngày 12/8/2015, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam đã tổ chức Hội thảo nghiệm thu cấp tỉnh đề tài giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Tham dự hội thảo có ThS. Phạm Viết Tích - Giám đốc Sở, Chủ tịch Hội đồng, Chủ trì, Ông Trần Minh Thái - Phó Chánh Thanh tra tỉnh, Chủ nhiệm đề tài, Ông Ngô Đình Bảy - PCT Hội đồng, các ủy viên phản biện, ủy viên và nhóm thực hiện đề tài.
Ông Trần Minh Thái báo cáo tóm tắt đề tài giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; ý kiến tham gia góp ý của các ủy viên phản biện, ủy viên.

Copy of WP 20150812 001ThS. Phạm Viết Tích - Giám đốc Sở, Chủ tịch Hội đồng phát biểu kết luận một số nội dung chính: Đề tài hoàn thành mục tiêu và nội dung nghiên cứu, hoàn thành đầy đủ các chuyên đề theo thuyết minh đề tài đã được phê duyệt, đưa ra được các phương pháp nghiên cứu, xác định thực trạng, nêu ra những tồn tại, nguyên nhân tồn tại, các phương hướng và các giải pháp đề xuất. Cơ sở dữ liệu thực trạng từ năm 2008-2012 đánh giá đúng theo đề cương được duyệt. Lý luận đánh giá theo Luật Đất đai năm 2003 nhưng hiện nay đã có Luật Đất đai năm 2013, do vậy đề nghị ban chủ nhiệm đề tài cố gắng chỉnh sửa lý luận thực tiễn đặt ra trên cơ sở văn bản mới, viện dẫn các văn bản mới theo Luật Đất đai năm 2013. Nguyên nhân khiếu nại hành chính về đất đai nên phân tích, đánh giá cụ thể và logic hơn để đưa ra các giải pháp thiết thực áp dụng vào thực tiễn. Trong đề tài cần bổ sung và nêu rõ nội dung cần kiến nghị với UBND tỉnh, với các Bộ như về bộ máy tổ chức, phân định rõ trách nhiệm của các ngành tham mưu cho UBND các cấp...
Hội đồng khoa học đánh giá, nghiệm thu cấp tỉnh thống nhất thông qua đề tài; đề nghị ban chủ nhiệm đề tài nghiên cứu bổ sung các ý kiến đóng góp của các đại biểu, hoàn thiện đề tài để trình Hội đồng khoa học tỉnh, UBND tỉnh thẩm định, phê duyệt và chuyển giao đề tài để Thanh tra tỉnh đưa vào áp dụng thực tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam./.

Ngọc Hiếu

Trang 8 trong tổng số 37